Sách Nói] Heidi - Chương 1
ttn

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Bùi Anh Tuyến
Ngày gửi: 23h:38' 22-12-2024
Dung lượng: 2.7 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Bùi Anh Tuyến
Ngày gửi: 23h:38' 22-12-2024
Dung lượng: 2.7 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Nghìn lẻ một ngày
François Pétis De La Croix
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
https://thuviensach.vn
Mục lục
Mục lục
Lời giới thiệu
Lời giới thiệu (B)
Lời giới thiệu (C)
Lời giới thiệu (D)
Lới giới thiệu (E)
LỜI TỰA
LỜI THƯA I (*)
LỜI THƯA II(*)
Chương 1
Chương 2
Chương 2 (B)
Chương 2 (C)
Chương 2 (D)
Chương 2 (E)
Chương 2 (F)
Chương 2 (G)
Chương 2
Chương 2 (B)
Chương 3
Chương 4
Chương 4 (B)
Chương 5
Chương 5 (B)
Chương 5 (C)
Chương 6
Chương 6 (B)
https://thuviensach.vn
Chương 6 (C)
Chương 7
Chương 7 (B)
Chương 7 (C)
Chương 7 (D)
Chương 7 (E)
Chương 7 (F)
Chương 8
Chương 8 (B)
Chương 9 (A)
Chương 9 (B)
Chương 9 (C)
Chương 10 (A)
Chương 10 (B)
Chưong 10 (C)
Chương 10 (D)
Chương 11
Chương 12 (A)
Chương 12 (B)
Chương 12 (C)
Chương 12 (D)
Chưong 13
Chương 14 (A)
Chương 14 (B)
Chương 15
Chuơng 16
Chương 16 (B)
Chương 17
Chương 18 (A)
Chương 18 (B)
Chương 19
Chương 20
https://thuviensach.vn
Chương 21
Chương 22
Chương 23 (A)
Chương 23 (B)
Chương 24 (A)
Chương 24 (B)
Chương 25
Chương 26 (A)
Chương 26 ( B)
Chương 27
Chương 28 (A)
Chương 28 (B)
Chương 29
https://thuviensach.vn
François Pétis De La Croix
Nghìn lẻ một ngày
Dịch giả: Phan Quang
Mục lục
.
1/ Chuyện nàng công chúa nước Casơmia.
2/ Chuyện Abuncaxem Basri.
3/ Chuyện quốc vương Ruvansat và công chúa Sêhêristani.
4/ Chuyện nhà vua trẻ xứ Tây Tạng và công chúa Naiman.
5/ Chuyện tể tướng Cavecsa.
6/ Chuyện quốc vương Ruvansat và công chúa Sêhêristani - phần cuối.
7/ Chuyện chàng trai Culup và người đẹp Đilara.
https://thuviensach.vn
8/ Chuyện hoàng tử Calap và công chúa nước Trung Hoa.
9/ Chuyện hoàng tử Falala, con trai quốc vương Ben- Ortoc, xứ Muxen.
10/ Chuyện hoàng tử Calap và công chúa nước Trung Hoa- phần tiếp.
11/ Chuyện quốc vương Bêrêtđin- Lô Lô và tể tuớng Atanmuc biệt danh tể
tướng ưu phiền.
12/ Chuyện tể tướng Atanmuc, biệt danh tể tướng ưu phiền, và nàng công
chúa Zê laca Bêgum.
13/ Chuyện quốc vương Bêrêđin-LôLô- phần tiếp.
14/ Chuyện hoàng thân Sêyp- En -Muluc.
15/ Chuyện quốc vương Bêrêđin- LôLô và tể tướng Atanmuc- phần tiếp.
16/ Chuyện chàng Malek và công chúa Thirin.
17/ Chuyện quốc vương Bêrêđin- LôLô và tể tướng Atanmuc- phần tiếp.
18/ Chuyện quốc vương Hocmô, biệt danh nhà vua không phiền não.
19/ Chuyện nhà bác học Avixen.
20/ Chuyện quốc vương Hocmô, biệt danh nhà vua không phiền não phần
cuối.
21/ Chuyện quốc vương Bêrêđin- LôLô, tể tướng và hoàng thân- phần tiếp.
22/ Chuyện người đẹp Aruya.
23/ Các cuộc phiêu lưu kỳ thú của Bunphauari, biệt danh nhà du hành vĩ
đại.
24/ Các cuộc phiêu lưu kỳ thú của Bunphauari, biệt danh nhà du hành vĩ
đại- phần tiếp.
25/ Chuyện quốc vương Bêrêđin- LôLô, tể tướng và hoàng thân- phần cuối.
26/ Chuyện hai anh em thần linh: Ađi và Đahi.
27/ Chuyện vua Narixatđôlê, quốc vương xứ Muxen, chàng Abđeraman,
thương gia thành Batđa và người đẹp Zainep.
28/ Chuyện nàng Repxima.
29/ Chuyện nàng công chúa nước Casơmia- phần kết.
https://thuviensach.vn
François Pétis De La Croix
Nghìn lẻ một ngày
Dịch giả: Phan Quang
Lời giới thiệu
HAI ANH EM SINH ĐÔI
Phan Quang.
HAI ANH EM SINH ĐÔI.
Bộ truyện A Rập Nghìn lẻ một đêm và bộ truyện Ba Tư Nghìn lẻ một ngày
có thể coi như hai anh em sinh đôi. Không chỉ bởi tên sách và thời gian ra
đời của chúng: Mười tập Nghìn lẻ một đêm do nhà Đông phương học
Antoine Galland chuyển từ tiếng A Rập sang tiếng Pháp ra mắt bạn đọc từ
năm 1704 đến năm 1711 tại Paris- sau .khi ông mất, còn ra thêm hai tập
nữa. Năm tập của Nghìn lẻ một ngày do một nhà Đông phương lỗi lạc khác
là Francois Pétis De La Croix thực hiện từ nguyên bản tiếng Ba Tư, được
xuất bản cũng tại Paris từ năm 1710 đến năm 1712.
Cấu trúc hai bộ truyện giống nhau: Có một truyện mở đầu làm khung cảnh
để từ đấy nhìn ra một khoảng trời và lung linh muôn vàn vì sao cổ tích, ở
đó người trần thế và thần linh chung sống với nhau, thực hư trộn lẫn, trí
tưởng tượng bay bổng lên thiên đàng, xuống địa ngục rồi trở về trái đất,
bên cạnh nhiều chi tiết huyễn hoặc là cuộc sống thực tại được miêu tả bằng
những nét bút tả chân... Truyện mở đầu xác lập vị trí của người dẫn chuyện
và ấn định chủ đề ở bộ truyện trước: Nghìn lẻ một đêm, một cô gái trinh kể
chuyện nhằm làm vui tai một tên bạo chúa. Tên này để trả thù bà hoàng hậu
thất tiết, đã quyết định cứ mỗi đêm bắt một cô gái trẻ vào thoả mãn dục
vọng rồi sáng hôm sau sai chém đầu ngay, cho người đàn bà ấy không còn
có cơ hội ngoại tình nữa. Câu chuyện cô kể do đó bắt buộc phải hấp dẫn,
truyện trước mở nút kéo truyện sau nhập cuộc; truyện sau phải hay, phải
mới hơn truyện trước; và bao giờ câu chuyện cũng phải ngưng lại nửa
chừng ở đoạn gay cấn nhất, để vua bằng lòng chờ đến sáng hôm sau- có
https://thuviensach.vn
nghĩa hoãn bản án tử hình thêm một ngày. ở bộ truyện sau: Nghìn lẻ một
ngày, một bà vú nuôi kể chuyện theo yêu cầu của một vua cha. Bà tự
nguyện làm người kể chuyện hầu nàng công chúa mắc một chứng bệnh
điên khùng: ghét đàn ông tới mức bày cách hãm hại những chàng hoàng tử
bất hạnh đam mê sắc đẹp của nàng dám cả gan đến ngỏ lời cầu hôn. Bà nhũ
mẫu tự đề ra nhiệm vụ: qua các chuyện kể của mình, chứng minh người
trần mắt thịt cũng như các vị thần linh có phép màu biến hoá, không thiếu
những mối tình chung thủy; không thiếu những chàng trai bất chấp thăng
trầm một lòng thủy chung với người tình: "trong đời chỉ nên yêu một lần,
song đã yêu thì yêu đến trọn đời". Bà phải kể sao cho chuyện sau hấp dẫn
hơn chuyện trước, để nàng công chúa cưng không chán, tiếp tục nghe kỳ
đến lúc khỏi bệnh và chịu đi tìm người làm chồng mới thôi.
Các truyện kể trong hai bộ truyện do đó độc lập với nhau, mỗi truyện là
một thể hoàn chỉnh song đều có quan hệ chằng chịt, thậm chí có chung một
nhân vật chính, được gắn kết lại theo cách móc xích, móc nào cũng có thể
coi là móc chính. Hoặc theo lối ngăn kéo: chuyện trước chứa chuyện sau,
chuyện sau đựng chuyện sau nữa, cứ thế kéo đài tưởng như vô hồi kỳ trận,
cho đến sau một nghìn lẻ một đêm (hoặc một nghìn lẻ một ngày) mới thắt
nút lại và kết thúc. Kết thúc chuyện nào cũng có hậu: ở bộ truyện trên, sau
nghìn lẻ một đêm, người kể chuyện sinh hạ cho nhà vua ba hoàng tứ xinh
như mộng, không những được tha tội chết mà còn được phong làm hoàng
hậu. ở bộ truyện dưới, sau nghìn lẻ một ngày, nàng công chúa điên khùng
rời hoàng cung bôn ba đi tìm chàng trai làm mình say đắm- một hoàng tử,
đương nhiên- để rồi khi hoàng tứ lên nối ngôi cha, sẽ trở thành hoàng hậu.
Hai bộ truyện còn giống nhau ở sự thành công vang dội. Thành công của bộ
Nghìn lẻ một đêm, theo các nhà nghiên cứu, chưa từng có ở pháp hoặc bất
kỳ một nước nào trước đó. Trong vòng bảy mươi tám năm, từ khi tập I đến
với bạn đọc (năm 1704) cho đến năm 1782, nó được tái bản 70 lần. Từ
tiếng Pháp, bộ truyện A Rập được dịch sang hầu hết các ngôn ngữ chính ở
châu âu, đi vòng quanh thế giới, và được dịch trở lại tiếng A Rập. Nó gợi
đề tài và cảm hứng cho người đời sau sáng tạo nên nhiều không kể xiết
những vở kịch nói, ca kịch, nhạc kịch, điện ảnh, hội hoạ... lừng danh trên
https://thuviensach.vn
thế giới.
Đề tựa bản dịch hoàn chỉnh xuất bản bằng tiếng Nga, đại văn hào Maxime
Gorki đánh giá bộ sách là "di sản tuyệt diệu và đồ sộ nhất của sáng tác
truyền khẩu dân gianhlà "một công trình dệt gấp bằng từ ngữ, Phủ lên trái
đất một tấm thảm đẹp lạ lùng" Một điều thú vị nữa, một văn hào khác sáng
tác bằng tiếng Tây Ban Nha là Gabriel Marquez, Giải thưởng Nobel về văn
chương, trong cuốn đầu bộ hồi ký ba tập mới công bố năm nay (2003) cho
biết, cuốn sách tập đọc đầu tiên của cậu bé Gabriel học trường Montessori
ở một làng quê mất hút một nơi nào đấy giữa nước Colombia xa xôi bên kia
bờ Đại Tây Dương chính là truyện... Nghìn lẻ một đêm. Thành công của bộ
Nghìn lẻ một ngày, ít nhất trong hơn một trăm năm đầu, không mấy kém.
Từ tiếng Pháp bộ truyện được dịch ra các tiếng Đức, Anh, Hà Lan, Đan
Mạch, ý, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ và... Ba Tư. Thế kỷ 18, riêng
ở Pháp, Nghìn lẻ một ngày được tái bản mười tám lần, thế kỷ 19 mười lăm
lần... Cũng như Nghìn lẻ một đêm, bộ Nghìn lẻ một ngày được đưa vào giáo
trình văn học bậc trung học phổ thông ở Pháp từ thế kỷ 18, và gợi đề tài,
cảm hứng cho nhiều bậc tài danh sáng tạo những công trình văn học, nghệ
thuật xuất sắc. Chỉ một trường đoạn trong chuyện Hoàng tử Calap và công
chúa nước Trung Hoa đã gợi hứng để các tác gia nước ý sáng tạo nên hai
tác phẩm công diễn: kịch nói Turandotcủa bá tước Gozzi (1720-1806) và
nhạc kịch cùng tên của nhạc sĩ tên tuổi Giacomo Puccini (1858-i924).
Puccini là tác giả tài hoa về nhiều loại hình âm nhạc: giao hưởng, nhạc
thính phòng, nhạc tôn giáo . . . ông là người chuyển thể thành công nhiều
tác phẩm văn học sang nhạc phẩm, trong đó có Ma nonLescaut(1893), La
Bohême(1896), Madame Butterlzy (1904)... Vẫn như Nghìn lẻ một đêm, bộ
Nghìn lẻ một ngày cũng được biên tập để xuất bản cho độc giả trẻ tuổi. Nổi
tiếng nhất ở Pháp là bộ sách của Nhà xuất bản DelagTave, Paris, tuy đã
lược bớt một số truyện vẫn này tới 813 trang và 500 minh họa. Truyện nàng
Repxima đức hạnh, truyện cuối cùng của bộ Nghìn lẻ một ngày, không rõ từ
bao giờ trở thành một câu chuyện dân gian phổ biến nhất tại Thụy Điển.
Bộ Nghìn lẻ một ngày tuy ra đời sau khi bộ Nghìn lẻ một đêm toả sáng chói
lọi, vẫn được nhiều nhà văn và học giả đương thời đánh giá cao. Văn hào
https://thuviensach.vn
và triết gia đi tiên phong Thế kỷ ánh sáng: Voltaire (1694-1778), người mà
người ta đồn có lần cho rằng trong số các tác gia lỗi lạc cùng thời với ông
như Jean Jacques Rousseau, Diderot, Montesquieu, Bernadin ~ dễ Sang
Pierre... chỉ mỗi một Lesage có thể sánh ngang văn tài của mình, đã đánh
giá cao bộ Nghìn lẻ một ngày. Voltaire viết trong bộ Thời đại vua Louis XIV
của ông như sau: lui Người ta đọc được của F. Pétis de la Croix Chuyện
Thành Cát Tư Hãn và Chuyện Tamerlan(tức Timour-i Lang) dựa theo các
tác gia cổ người A Rập, cùng nhiều tác phẩm có ích khác; tuy nhiên bản
dịch bộ Nghìn lẻ một ngày của ông là cuốn sách có nhiều người đọc hơn
cả..." Tại một bài khác, Voltaire lại viết: "Nghìn lẻ Một đêm hay Nghìn lẻ
Một ngày đều giống như nhau thôi, đều cùng là Nghìn lẻ Một"- ý nhà văn
muốn nói cả hai tác phẩm cùng hấp dẫn, phong phú tuyệt vời không mấy
khác nhau.
Tu sĩ J. P.Nicéron (1685-1738), một tác gia chuyên về tiểu sứ các nhà văn
Pháp thế kỷ 18 bình: "Các truyện trong Nghìn lẻ một đêm do A. Galland
dịch thường có nhược điểm là không mấy giống thực tế. Các truyện trong
Nghìn lẻ một ngày, do F. P. De la Croix dịch một phần từ tiếng Ba Tư tài
tình hơn nhiều và gần thực tại hơn nhiều, tuy không phải sự thần kỳ không
ngư trị trong nhiều truyện, đúng như sở thích của những người phương
Đông". R. F. Burton (1821-1890) là dịch giả thành công nhất rong số người
dịch bộ Nghìn lẻ một đêm của A. GallanD ra tiếng Anh, khẳng định: Nghìn
lẻ một ngày trên thực tế là một sáng tác. Trong phần lớn trường hợp, nhiều
truyện kể trong bộ ấy là những sáng tác tài tình bắt nguồn từ chỗ vay mượn
(các truyện dân gian) rồi diễn tả lại một cách rất tự do".
https://thuviensach.vn
François Pétis De La Croix
Nghìn lẻ một ngày
Dịch giả: Phan Quang
Lời giới thiệu (B)
MỘT VỤ ÁN VĂN CHƯƠNG
Hai bộ truyện sinh đôi ấy, đúng như lời mở đầu câu chuyện nổi tiếng An Ba
ba và bốn mươi tên cướp viết, "những tưởng số phận hai người rồi cũng sẽ
giống nhau, ai ngờ sự tình xui nên khác". Sau gần hai thế kỷ lừng lẫy
không mấy kém người anh, bộ Nghìn lẻ một ngày bị thất sủng trước bạn
đọc. Phải chờ cả trăm năm, đến cuối thế kỷ 20, công bằng mới tái lập,
Nghìn lẻ một ngày mới có dịp tái xuất giang hồ.
Trong Lời giới thiệu do chính F.P. De La Croix viết năm 1710 và in ở đầu
tập I, ông khẳng định bộ sách của mình được dịch từ tác phẩm của tu sĩ
Mocies mà ông có dịp giao du năm 1675 khi đang làm việc ở thành phố
Ispahan (Ba Tư). Tác phẩm ấy được tu sĩ Mocles dịch từ một bản tiếng Thổ
Nhĩ Kỳ, nhan đề Al-farage badal-shidda,có nghĩa Niềm vui sau nỗi buồn,
mà "Thư viện Hoàng gia của ta (Pháp) cũng có lưu trữ một bản". Tại Lời
thưa trước I in đầu tập II và Lời thưa trước II, De La Croix hai lần khẳng
định điều ấy Vấn đề đặt ra đối với người đời sau là có tu sĩ Mocles- tác gia
thật hay không (mặc dù tên ông ấy đã được đưa vào bộ Từ điển thư mục thế
giới, cổ đại và hiện đại của Michaud /1811-1828), và có thật nguyên bản
Niềm vui sau nỗi buồn lưu trữ ở Thư viện Hoàng gia (Paris) hay không.
Ngay từ cuối thế kỷ 18, đã có ý kiến nghi ngờ lời giới thiệu của De La
Croix. Trong một chuyến sang Pháp, nhà Đông phương học người áo là J.
de Hammer (1774-1856) thân hành đến Thư viện hoàng gia đào bới. ông
tuyệt nhiên không nhìn thấy nguyên bản Niềm vui sau nỗi buồn của tu sĩ
Mocles. ông đi tới kết luận Lời nói đầu của De La Croix cũng là một
"truyện kể". Theo chân ông, nhà Đông phương học người Pháp A.
Loiseleur Deslongchamps (1805-1840) cũng cho đấy một khuyên ngụ
ngôn. Người ta còn nhấn mạnh, trong các cuốn sách ghi chép về những
chuyến đi của ông sang các nước Trung á, tuy De La Croix có thuật lại khá
https://thuviensach.vn
chi tiết việc gặp tu sĩ Mocles tại thành phố Ispahan năm 1675, và sau đấy
giữa hai người có mối quan hệ thầy trò, song tuyệt nhiên trong nhật ký ông
không đả động đến bộ sách Hezaryec (Nghìn lẻ một ngày) mà ông nói
"được tu sĩ cho phép sao giờ một bảng". Rõ ràng người làm nên bộ truyện
Nghìn lẻ một ngày không phải tu sĩ Ba Tư Mocles mà chính là nhà Đông
phương học người Pháp F. P. De Lacroix.
Câu chuyện trở thành một vụ án văn chương. F.P. De La Croix bị các nhà
nghiên cứu văn học cổ đại phê phán nặng nề về sự không trung thực. Lý
do? Chắc hẳn, như lời nhà nghiên cứu J.A.S. Collin dễ Plancy nói trong lời
nói đầu bộ Nghìn lẻ một ngày tái bản năm 1826 , "De La Croix sợ nếu nói
thật mình là tác giả, có thể ảnh hưởng đến thành công của các truyện kể
trước bạn đọc, vì người Pháp xưa nay vẫn chuộng các bản dịch từ tiếng
nước ngoài hơn các kiệt tác của nước mình".
Tuy nhiên, ngay thời bấy giờ, đã có không ít người lên tiếng bênh vực De
La Croix, khẳng định giá trị độc đáo của bộ Nghìn lẻ một ngày. Nhà văn La
Harpe, trong cuốn Giáo trình văn học cổ đại và hiện đại (xin lưu ý: Giáo
trình) đánh giá đúng mực: Các truyện kể Ba Tư trong Nghìn lẻ một ngày có
cơ sở vững chãi hơn các truyện trong Nghìn lẻ một đêm. Chủ đề chính là
thuyết phục một nàng công chúa từ chỗ nặng định kiến về đàn ông, đi đến
tin rằng trong giới mày râu chàng thiếu gì người yêu chung thủy (...) Chúng
ta cùng biết ơn Antoine Galland và Pétis De La Croix- biết ơn thật sự hai
ông đã có công giới thiệu với chúng ta các truyện kể A Rập và truyện kể Ba
Tư. Antoine Galland viết văn cẩu thả, Pétis De La Croix viết chuẩn mực
hơn, văn cả hai ông đều rất tự nhiên". Nhà nghiên cứu Collin dễ Plancy còn
dứt khoát hơn: "Dù thế nào, nếu lòng biết ơn của chúng ta đối với Pétis De
La Croix với tư cách nhà dịch thuật có kém đi (sau khi phát hiện đấy không
phải là một bộ truyện dịch), thì chúng ta càng biết ơn ông nhiều hơn với tư
cách nhà sáng tác. Quang vinh của ông vì vậy chúng giảm chút nào".
Ngày nay, sau bao công trình nghiên cứu, nhà Đông phương học Phí Sebag
đã có đủ cơ sở để khẳng định: phần lớn các truyện kể trong bộ Nghìn lẻ một
ngày dựa vào bản cuốn sách viết tay bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ nhan đề AlFarage bao al-shidda có nghĩa Niềm vui sau nỗi buồn.. Đây là một tập gồm
https://thuviensach.vn
bốn mươi truyện kể, dịch từ tiếng Ba Tư sang. Những bản viết tay ấy, vào
cuối thế kỷ XVII có ở Thư viện Hoàng gia Pháp, và De La Croix có thể tìm
đọc bộ sách ở đấy.
Ngày nay, sau tròn ba thế kỷ, có lẽ đến lúc có thể quả quyết như Phút
Sebag: "Bộ sách Nghìn lẻ một ngày là một công trình hoàn hảo nhất của
nghệ thuật kể chuyện theo phong cách thế kỷ 18... Độc giả nào chưa đọc bộ
sách ấy, chưa thể nói mình đã thông hiểu mọi tuyệt tác của nền văn học
nước nhà". Gần đây, trên nguyệt san Thế giới ngoại giao số ra tháng 102003 vừa qua, nhà phê bình văn học Pierre Lepape viết: “phải chăng thời
điểm của Nghìn lẻ một ngày cuối cùng đã trở lại? Có phải cuối cùng người
ta thôi không coi F.P. De La Croix như một người làm đồ giả về tác phẩm
hư cấu nữa, mà đánh giá ông thật sự là một nhà bác học dành thời giờ sáng
tác trong những giờ thư giãn? Bộ sách ấy xứng đáng giành lại chỗ nó đã có
đúng như vào thời cuối triều đại vua Louis XIV, sát cánh bên bộ Nghìn lẻ
một đêm của A. Galland. ông này so với De La Croix có thể là nhà phiên
dịch trung thành hơn, song lại là nhà văn không được trau chuốt bằng".
Về dung lượng, bộ Nghìn lẻ một ngày dài chỉ bằng một nửa người anh sinh
đôi của nó: Nghìn lẻ một đêm. Có phải nguồn truyện cổ Ba Tư và Thổ Nhĩ
Kỳ không phong phú bằng nguồn truyện cổ A Rập? Hay nhà Đông phương
học của chúng ta cạn tư liệu? Các nhà nghiên cứu về F.P. De Lacroix vừa
phát hiện thêm một chi tiết thú vị. Tại Lời thưa trước I, tác giả cho biết
"mặc dù bận trăm công nghìn việc khác, người dịch vẫn tiếp tục công việc
của mình vào những giờ phút rỗi rãi, và hy vọng sẽ cung cấp cho người đọc
mỗi tháng một tập Nghìn lẻ một ngàyHoá ra, ngoài hiệu ứng của thành công
vang dội của bộ Nghìn lẻ một đêm, còn có một động lực cá nhân khác nữa
thôi thúc Delacroix cố dành những giờ phút rỗi rãi để làm bộ sách, là nhằm
mua vui cho một "người đọc" hào hoa: nàng Marie- Adélaide de Savoie(*),
quận chúa xứ Bourgogne. Vẫn nhà nghiên cứu Phút Sebag cung cấp cho
chúng ta tư liệu mới. ông viết trong phần Cuộc đời và tác phẩm của F.P.De
La Croix: 1710-1712. Xuất bán bộ Nghìn lẻ một ngày, truyện kể Ba Tư do
F.P. De La Croix dịch ra tiếng Pháp, Paris 1710- 1712, năm tập. Căn cứ và
một tư liệu chúng tôi vừa phát hiện, hoá ra De la Croix biên soạn bộ sách
https://thuviensach.vn
ấy vào những giờ rỗi rãi của ông, nhằm giải trí cho Marie-adélaide dễ
Savoie, quận chúa xứ Bourgogne, và chính "sự qua đời của nàng quận chúa
ấy"- mất vì bệnh ngày 12 tháng 2năm 1712 ớ tuổi hai mươi sáu,-đã khiến
tác giả ngưng một công trình đáng ra còn có thể tôi xa hơn nữa" (Theo tư
liệu lưu trừ tại Thư viện L Arsenal, Paris(**), hồ sơ 5495, tập 75). "4-121713. F.P. De La Croix, bị kiệt lực sớm vì làm việc quá sức, mất tại Paris và
được an táng trong khuôn viên nhà thờ Sang Sulpitre. Báo La Gazette
dễPari8đưa tin về sự qua đời của nhà Đông phương học như sau: Ngài
Frallcois PétisDe La Croix, thư ký- phiêndịch của nhàqua và giáo sư ngôn
ngữ và văn chương A Bập tại Đại học hoàng gia, một người có năng lực
phi thường và rất đáng tin cậy về các ngônngữ: A Rập, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Tư
và Arlnelli, vừa qua đời ngày 4-12, thọ sáu mươi tuổi.
"Ông để lại trong tình trạng bản viết tay một số lượng rất đáng ngạc nhiên
nhiều tác phẩm dịch từ tiếng A Rập, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Tư và Armêni, nhiều
từ điển song ngữ và sách bình chú về nhiều chủ đề khác nhau, con trai ông,
Alexandre Louis Marie và linh mục Goujat, trong hai công trình tiến hành
độc lập, đã thống kê và bổ sung đầy đủ."
__________________
[(*) MarieAdélaidedễSavoie sinh ngày 5-12-1685, kết hôn cùng quận công
de Bourgogne, sống tại triều đình vua Louis XIV, và là một người được ông
vua này sủng ái . Theo những người đương thời, đấy là một phụ nữ xinh
đẹp, thông ninh, trò chuyện hấp dẫn, tính ham vui. thích chungdiện, khiêu
vũ, tiệc tùng, săn bắn và đánh bạc. Có thể với địa vị, uy lực và sắc đẹp của
thình, nàng quận chúa này- giữa lúc cả kinh thành Paris đang say sưa với
Nghìn lẻ một đêm- là người ngỏ ý khích lệ nếu không phải là đặt hàng" cho
De La Croix viết bộ Nghìn lẻ một ngày.
Chú thích:
(**) Một thư viện rất lớn ở Pháp thành lập từ thế kỷ XV/ toạ lạc tại Quận
4 Paris. về tầm quan trọng chỉ chỉ kém có Thư viện Quốc gia.
https://thuviensach.vn
François Pétis De La Croix
Nghìn lẻ một ngày
Dịch giả: Phan Quang
Lời giới thiệu (C)
NHÀ ĐÔNG PHƯƠNG HỌC LỖI LẠC
François Pétis De La Croix là người cùng thời với Antoine Galland, kém
ông này bảy tuổi nhưng lại ra đi trước hai năm, người ta bảo do kiệt sức vì
làm việc quá nhiều. Khi ông mất, Antoine Galland ghi vào Nhật ký của
mình: “sáng nay (ngày 9-12-1713), đọc báo La Gazette, tôi mới hay tin ông
François Pétis De La Croix, thư ký- phiên dịch của Nhà Vua về ba thứ tiếng
phương Đông: A Rập, Ba Tư và Thổ Nhĩ Kỳ, giáo sư Đại học Hoàng gia
môn ngôn ngữ A Rập, đồng nghiệp của tôi, đã qua đời ngày 4 tháng này,
thọ sáu mươi tuổi. Cho đến nay, chưa có một người châu âu nào nắm vững
cả ba ngôn ngữ ấy hoàn hảo như ông, không chỉ trong việc dịch xuôi hay
nói chuyện mà cả trong sáng tác. Ngoài ba thứ tiếng ấy, gần đây do nhu cầu
của Triều đình có một số văn bản tiếng Armêni cần dịch (ra tiếng Pháp),
ông còn học và thông thạo thêm tiếng Armêni. ông để lại nhiều tác phẩm
dịch từ tiếng A Rập và tiếng Ba Tư, đặc biệt cuốn Cuộc đời Tamerlan,
nguyên tác tiếng Ba Tư của Sherfeddin, mà ông vừa chỉnh lý lại để De La
Croix là một trong những người châu âu đi tiên phong trong môn Đông
phương học. ông sinh năm 1653, con trai một viên chức làm thư ký và
phiên dịch cho nhà vua về các ngôn ngừ Thổ Nhĩ Kỳ và A Rập. Ngay từ
nhỏ, cậu Francois đã được quan tâm đào tạo nhằm nối nghiệp cha sau này.
Cậu không chỉ học các ngôn ngữ phương Đông, mà còn tỏ ra xuất sắc các
môn toán, thiên văn, địa lý, hội họa và âm nhạc. Chưa đến mười bảy tuổi,
ông đã được Colbert hồi bấy giờ là thủ tướng của vua Louis XIV (còn được
người đương thời tôn vinh là ông vua toả sáng như Mặt trời) gửi sang
Trung Đông để bồ túc về ngôn ngữ, văn học, nghiên cứu phong tục tập
quán cũng như các môn khoa học, nghệ thuật và tôn giáo các dân tộc
phương Đông.
Trong suốt mười năm, từ 1670 đến 1680, chàng thanh niên chu du qua các
https://thuviensach.vn
nước Xyri, Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, lưu trú một thời gian dài tại các thành phố
Alep, Ispahan và Constantinop (nay là Istanbun) để học thêm ngôn ngữ văn
học cũng như khẩu ngữ của người A Rập, người Ba Tư và người Thổ Nhĩ
Kỳ. Thời gian lưu học ở Alep, mặc dù chưa đến hai mươi tuổi ông đã viết
trực tiếp bằng tiếng A Rập một cuốn sách về tiểu sử vua Louis XIV và
chiến dịch đánh Hà Lan do nhà vua ấy tiến hành. Khi nước Pháp lần đầu
thiết lập quan hệ ngoại giao với đế quốc ôtôman và cử đại sứ đặc mệnh
toàn quyền đến Thổ Nhĩ Kỳ, De La Croix làm trợ lý cho hai đại sứ liên
tiếp.
Đọc các nhật ký và ghi chép ông để lại, người ta thấy ông đã đặt chân đến
nhiều thành phố và vùng nông thôn sau này sẽ được nhà văn miêu tả khá
chân thực sinh hoạt của người dân trong bộ Nghìn lẻ một ngày. Có thể kể:
Alep, Batđa, Điabêkia, Mu xen (hoặc Mu xun), Ispahan, Constantinop,
Smiêc, Livuanơ, rồi thời gian sau Maroc, Algiê, Cai ro... Là người ham mê
sưu tầm sách cổ Đông phương, ông mang về làm giàu cho Thư viện Hoàng
gia Pháp rất nhiều bản sách in và sách chép tay bằng tiếng A Rập, Ba Tư
hoặc Thổ Nhĩ Kỳ.
Sau đây là một đoạn nhật ký của chàng trai hiếu học về cuộc gặp gỡ tu sĩ
Mocles ở Ispahan- Mocles là người gần bốn mươi năm sau được ông giới
thiệu với độc giả Pháp là tác giả bộ Nghìn lẻ một ngày bằng tiếng Ba Tư:
"Thời gian này tôi còn phải học thêm một cuốn sách rất khó về thần học
nhan đề là Mesnevigồm ít nhất chín vạn câu văn vần. Tôi muốn tìm một
người thuộc lòng bộ sách ấy để học, nhưng vì thiếu tiền không thể tìm ra,
đành phải xin gặp vị Tu sĩ Bề trên dòng tu Mewlevis. Nhờ một người bạn
giới thiệu, tôi được gặp vị tu sĩ ấy. Tôi vừa ngỏ lời chúc tụng xong, ông đã
đồng ý cho phép tôi trong khoảng thời gian . năm, sáu tháng tới, được
nhiều lần gặp ông để ông dạy bảo cho. Tôi học thành công cuốn sách ấy. Vị
tu sĩ ấy đâu phải là người sẽ đồng ý nhận tiền công, tôi tặng ông ba cái âu
sứ lớn, và được ông vui lòng nhận cho. Tên ông là tu sĩ Mocles. Thời gian
này ông đang cùng mười hai môn đệ chuẩn bị sáng lập một giáo phái
mới..."
Cuối năm 1680, trớ về Paris, De La Croix được cứ vào chức vụ làm thư ký
https://thuviensach.vn
phiên dịch cho nhà vua về các ngôn ngữ Trung Đông, mà thân sinh ông vẫn
giữ từ trước. Năm 1692, được phong làm giáo sư thực thụ dạy ngôn ngữ và
văn học A Rập ở Đại học Hoàng gia, đồng thời vẫn tiếp tục làm thư kýphiên dịch cho Triều đình. ông tập trung công sức vào việc trước tác và
phiên dịch sách tiếng A Rập, Ba Tử, Thổ Nhĩ Kỳ và Armêni. ông để lại một
thư mục dày dặn về các công trình của mình.
Việc đầu tiên của F.P. De La Croix về trước tác là chỉnh lý và cho xuất bản
cuốn Lịch sử Thành Cát Tu Hãn mà người cha khi qua đời chưa kịp hoàn
thành. Sau đấy, xuất bản cuốn Truyện bà hoàng Ba Tư và các vị tể tướng,
gồm bốn mươi truyện kể gốc Thổ Nhĩ Kỳ (1707) và bộ Nghìn lẻ một ngày
(1710-1712). Sau khi ông qua đời, con trai ông cho xuất bản cuốn Chuyện
Timua-Bec (còn gọi là Tamerlan) do ông biên soạn. Thật ra, số lượng những
tác phẩm đã được in của De La Croix chẳng nghĩa lý so với toàn bộ các
công trình hết sức đồ sộ gồm trước tác, biên dịch, ghi chép, nhật ký... rất
cần thiết cho những ai thời ấy muốn đi sâu nghiên cứu phương Đông. Cuối
bộ sách Thế kỷ của Louis XIV, phụ lục về Danh mục các nhà văn Pháp dưới
triều đại của ông vua ấy, nhà văn và triết gia Voltaire dành cho De La Croix
những dòng sau: "ông là một trong những người được vị thủ tướng vĩ đại
Colbert khuyến khích và thưởng công xứng đáng. Vua Louis XIV đã cử
ông sang Thổ Nhĩ Kỳ và Ba Tư từ năm mười sáu tuổi để học các ngôn ngừ
phương Đông. Có mấy ai ngờ ông đã biên soạn một cuốn sách bằng tiếng A
Rập được đánh giá rất cao ở phương Đông về cuộc đời vua Louis XIV~
ông còn viết cuốn Lịch sử Thành Cát Tư Hãnvà Lịch sứ Tamerlan, dựa trên
các tác gia A Rập thời cổ, và nhiều cuốn sách có ích khác. Nhưng bản dịch
Nghìn lẻ một ngày là cuốn sách có nhiều người đọc hơn cả. Chẳng là: Con
người là băng giá trước sự thậnNllưng lại là lửa hồng trước những điều
tưởng tượng ra (La Fontaine, IX, 6)" Sau nhiều chục năm nghiên cứu, nhà
Đông phương học Paul Sebag không ngần ngại gọi tác giả Nghìn lẻ một
ngày là một nhà bác học.
ĐẠO HỒI, A RẬP, BA TƯ, THỔ NHĨ KỲ...
Người đọc Nghìn lẻ một ngày cũng như Nghìn lẻ mộtđêm thường gặp
https://thuviensach.vn
những khái niệm lịch sử, địa lý, tôn giáo...Trên thực tế, đất nước của các vị
hoàng đế Ba Tư trong truyện không phải nước Ba Tư như chúng ta thường
hiếu, càng không đồng nhất với Cộng hoà Hồi giáo Iran ngày nay. Cũng
như vậy, nước Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại chỉ là một phần nhỏ còn lại của đế quốc
ôtôman do các sultan(Sultan: Danhhiệu của hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ (PQ))
ngày xưa trị vì. Và giữa đế quốc Ba Tư huyền thoại và đế quốc ôtôman
Thổ Nhĩ Kỳ có khoảng cách chừng. . . hai ngàn năm lịch sử.
Ba Tư là một trong những dân tộc và quốc gia cổ nhất hành tinh. Nước Ba
Tư thời thượng cổ có một nền văn minh tồn tại gần hai nghìn năm, từ
khoảng năm 2500 đến năm 640 trước kỷ nguyên công giáo (quen gọi là
công nguyên- C.N.). Đấy là nền văn minh êlamit, di sản văn hoá lâu đời
nhất của người Ba Tư, dù trên thực tế những người tạo dựng nên nền văn
minh ấy không phải tổ tiên đích thực của người Iran hiện nay. Từ thế kỷ thứ
VII đến thế kỷ thứ IV trước C.N. là đế quốc Ba Tư của người Mêdet và
người Acsênêit. Dưới triều các hoàng đế Xuân và Đariut, đế quốc Ba Tư
trải rộng khắp vùng Trung Cận Đông. Phía Nam, từ phần đất dọc bờ nam
Địa trung hải, qua toàn bộ lưu vực sông Nin, phần bắc lục địa A Rập, đến
vùng Lưỡng Hà, rồi đi dọc theo vịnh Ba Tư đến tận toàn bộ lưu vực sông
Inđut của ân Độ. Phía Bắc từ Maxêđoan thuộc châu âu, theo bờ nam Hắc
Hải tới bờ nam biển Caspi, vươn sang vùng nam biển A ran và đi quá kinh
đô Xamacan (nay thuộc Uzbêkistan) rất xa về phía đông.
Với cuộc chinh phục của vua Alêchxan Đại đế, đế quốc Ba Tư bước vào
thời kỳ Hi Lạp hoá, chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền văn minh cổ đại Hy
Lạp. Dĩ nhiên nền văn minh Hy Lạp gặp sức đối kháng mãnh liệt của người
Ba Tư mong muốn trở lại thời hoàng kim của mình thời trước. Đế quốc Ba
Tư sau cùng là triều đại các hoàng đế thuộc dòng Xaxanit (từ thế kỷ III đến
thế kỷ Vi sau C.N.).
Nhà sử học Philippe Gignoux viết về thời kỳ này như sau: "Dưới triều đại
của đại đế Xosro Anusiavan (531-579) và cháu ông, đại đế Xosro Paviz
t591-628), sự huy hoàng tráng lệ của các triều đình Ba Tư đạt tới đỉnh cao
và lưu vào huyền thoại cho đến ngày nay. Hoàng đế Anusiavan là một điển
hình nhà vua công minh, hào hiệp theo truyền thống A Rập. ông duy trì
https://thuviensach.vn
được hòa bình, tiến hành nhiều cuộc cải cách, xây dựng nhiều thành phố.
Riêng vùng Xtêsiphon đã là một tổng thể gồm bảy thành phố liên hoàn.
Đây là một thời kỳ rực rỡ của văn học và triết học. Giới tăng lữ nắm trong
tay toàn bộ nền giáo dục. ảnh hưởng của Hy Lạp về y học, của ấn Độ về
văn học rất đậm nét"[( Bách khoa toàn thư Universalis, 1996, tập XV/I,
trang 896.)]
Với sự ra đời của đạo Hồi do Mahomêt sáng lập và thế kỷ thứ VII, đặc biệt
sau các cuộc chinh phục của các Calip (hoàng đế và thống lĩnh tín đồ Hồi
giáo) kế vị Mahômêt, đế quốc Ba Tư bước vào thời kỳ Hồi giáo hóa. Kinh
đô được chuyển sang Batđa nay là thủ đô trắc. Xuất hiện một nền văn minh
mới, hệ quả giao thoa giữa hai nền văn minh lớn: Ba Tư và A Rập (còn có
tên Văn minh A Rập- Ba Tư). Chói lọi nhất (và cũng nhiều rối rắm nhất)
thời kỳ này là vương triều của hoàng đế Harun-an-Rasit (766-809), một
nhân vật lịch sử xuất hiện thường xuyên trong hai bộ Nghìn lẻ một đêm và
Nghìn lẻ một ngày. Dưới triều đại của ông, kinh thành Batđa được coi như
một trung tâm chính trị văn hoá huy hoàng tráng lệ nhất thời bấy giờ.
Đế chế Calip suy đồi và tan rã trước cuộc xâm lược và đô hộ của người Thổ
Nhĩ Kỳ. Tuy nhiên, thế kỷ XI-XII vẫn còn là một thời đại hoàng kim của
nước Ba Tư Hồi giáo về chính trị, văn học, triết học, nghệ thuật, kiến trúc...
Các cuộc xâm lăng liên tiếp của người Mông Cổ (Thành Cát Tư Hãn),
người Ti mua (Tamerlan), người Tuôcmen... là những biến động cự kỳ lớn,
vừa làm xáo trộn vừa làm phong phú thêm nền văn hóa Ba Tư Hồi giáo vốn
đã rất đặc sắc. Đế quốc ôtôman của người Thổ Nhĩ Kỳ manh nha từ thế kỷ
XII, hình thành vào thế kỷ XV và đạt tới cực thịnh và thế kỷ XV-XVI cũng
hết sức rộng lớn. Biên giới phía nam của nó trải dài suốt cả vùng Bắc Phi
sang tận vịnh Ba Tư.
Phía bắc, tất cả vùng Lường Hà sang một phần các nước Đông âu. Qua
nhiều bước thăng trầm và đổi thay địa giới, đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ tồn tại mãi
đến năm 1923 mới chấm d...
Nghìn lẻ một ngày
François Pétis De La Croix
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
https://thuviensach.vn
Mục lục
Mục lục
Lời giới thiệu
Lời giới thiệu (B)
Lời giới thiệu (C)
Lời giới thiệu (D)
Lới giới thiệu (E)
LỜI TỰA
LỜI THƯA I (*)
LỜI THƯA II(*)
Chương 1
Chương 2
Chương 2 (B)
Chương 2 (C)
Chương 2 (D)
Chương 2 (E)
Chương 2 (F)
Chương 2 (G)
Chương 2
Chương 2 (B)
Chương 3
Chương 4
Chương 4 (B)
Chương 5
Chương 5 (B)
Chương 5 (C)
Chương 6
Chương 6 (B)
https://thuviensach.vn
Chương 6 (C)
Chương 7
Chương 7 (B)
Chương 7 (C)
Chương 7 (D)
Chương 7 (E)
Chương 7 (F)
Chương 8
Chương 8 (B)
Chương 9 (A)
Chương 9 (B)
Chương 9 (C)
Chương 10 (A)
Chương 10 (B)
Chưong 10 (C)
Chương 10 (D)
Chương 11
Chương 12 (A)
Chương 12 (B)
Chương 12 (C)
Chương 12 (D)
Chưong 13
Chương 14 (A)
Chương 14 (B)
Chương 15
Chuơng 16
Chương 16 (B)
Chương 17
Chương 18 (A)
Chương 18 (B)
Chương 19
Chương 20
https://thuviensach.vn
Chương 21
Chương 22
Chương 23 (A)
Chương 23 (B)
Chương 24 (A)
Chương 24 (B)
Chương 25
Chương 26 (A)
Chương 26 ( B)
Chương 27
Chương 28 (A)
Chương 28 (B)
Chương 29
https://thuviensach.vn
François Pétis De La Croix
Nghìn lẻ một ngày
Dịch giả: Phan Quang
Mục lục
.
1/ Chuyện nàng công chúa nước Casơmia.
2/ Chuyện Abuncaxem Basri.
3/ Chuyện quốc vương Ruvansat và công chúa Sêhêristani.
4/ Chuyện nhà vua trẻ xứ Tây Tạng và công chúa Naiman.
5/ Chuyện tể tướng Cavecsa.
6/ Chuyện quốc vương Ruvansat và công chúa Sêhêristani - phần cuối.
7/ Chuyện chàng trai Culup và người đẹp Đilara.
https://thuviensach.vn
8/ Chuyện hoàng tử Calap và công chúa nước Trung Hoa.
9/ Chuyện hoàng tử Falala, con trai quốc vương Ben- Ortoc, xứ Muxen.
10/ Chuyện hoàng tử Calap và công chúa nước Trung Hoa- phần tiếp.
11/ Chuyện quốc vương Bêrêtđin- Lô Lô và tể tuớng Atanmuc biệt danh tể
tướng ưu phiền.
12/ Chuyện tể tướng Atanmuc, biệt danh tể tướng ưu phiền, và nàng công
chúa Zê laca Bêgum.
13/ Chuyện quốc vương Bêrêđin-LôLô- phần tiếp.
14/ Chuyện hoàng thân Sêyp- En -Muluc.
15/ Chuyện quốc vương Bêrêđin- LôLô và tể tướng Atanmuc- phần tiếp.
16/ Chuyện chàng Malek và công chúa Thirin.
17/ Chuyện quốc vương Bêrêđin- LôLô và tể tướng Atanmuc- phần tiếp.
18/ Chuyện quốc vương Hocmô, biệt danh nhà vua không phiền não.
19/ Chuyện nhà bác học Avixen.
20/ Chuyện quốc vương Hocmô, biệt danh nhà vua không phiền não phần
cuối.
21/ Chuyện quốc vương Bêrêđin- LôLô, tể tướng và hoàng thân- phần tiếp.
22/ Chuyện người đẹp Aruya.
23/ Các cuộc phiêu lưu kỳ thú của Bunphauari, biệt danh nhà du hành vĩ
đại.
24/ Các cuộc phiêu lưu kỳ thú của Bunphauari, biệt danh nhà du hành vĩ
đại- phần tiếp.
25/ Chuyện quốc vương Bêrêđin- LôLô, tể tướng và hoàng thân- phần cuối.
26/ Chuyện hai anh em thần linh: Ađi và Đahi.
27/ Chuyện vua Narixatđôlê, quốc vương xứ Muxen, chàng Abđeraman,
thương gia thành Batđa và người đẹp Zainep.
28/ Chuyện nàng Repxima.
29/ Chuyện nàng công chúa nước Casơmia- phần kết.
https://thuviensach.vn
François Pétis De La Croix
Nghìn lẻ một ngày
Dịch giả: Phan Quang
Lời giới thiệu
HAI ANH EM SINH ĐÔI
Phan Quang.
HAI ANH EM SINH ĐÔI.
Bộ truyện A Rập Nghìn lẻ một đêm và bộ truyện Ba Tư Nghìn lẻ một ngày
có thể coi như hai anh em sinh đôi. Không chỉ bởi tên sách và thời gian ra
đời của chúng: Mười tập Nghìn lẻ một đêm do nhà Đông phương học
Antoine Galland chuyển từ tiếng A Rập sang tiếng Pháp ra mắt bạn đọc từ
năm 1704 đến năm 1711 tại Paris- sau .khi ông mất, còn ra thêm hai tập
nữa. Năm tập của Nghìn lẻ một ngày do một nhà Đông phương lỗi lạc khác
là Francois Pétis De La Croix thực hiện từ nguyên bản tiếng Ba Tư, được
xuất bản cũng tại Paris từ năm 1710 đến năm 1712.
Cấu trúc hai bộ truyện giống nhau: Có một truyện mở đầu làm khung cảnh
để từ đấy nhìn ra một khoảng trời và lung linh muôn vàn vì sao cổ tích, ở
đó người trần thế và thần linh chung sống với nhau, thực hư trộn lẫn, trí
tưởng tượng bay bổng lên thiên đàng, xuống địa ngục rồi trở về trái đất,
bên cạnh nhiều chi tiết huyễn hoặc là cuộc sống thực tại được miêu tả bằng
những nét bút tả chân... Truyện mở đầu xác lập vị trí của người dẫn chuyện
và ấn định chủ đề ở bộ truyện trước: Nghìn lẻ một đêm, một cô gái trinh kể
chuyện nhằm làm vui tai một tên bạo chúa. Tên này để trả thù bà hoàng hậu
thất tiết, đã quyết định cứ mỗi đêm bắt một cô gái trẻ vào thoả mãn dục
vọng rồi sáng hôm sau sai chém đầu ngay, cho người đàn bà ấy không còn
có cơ hội ngoại tình nữa. Câu chuyện cô kể do đó bắt buộc phải hấp dẫn,
truyện trước mở nút kéo truyện sau nhập cuộc; truyện sau phải hay, phải
mới hơn truyện trước; và bao giờ câu chuyện cũng phải ngưng lại nửa
chừng ở đoạn gay cấn nhất, để vua bằng lòng chờ đến sáng hôm sau- có
https://thuviensach.vn
nghĩa hoãn bản án tử hình thêm một ngày. ở bộ truyện sau: Nghìn lẻ một
ngày, một bà vú nuôi kể chuyện theo yêu cầu của một vua cha. Bà tự
nguyện làm người kể chuyện hầu nàng công chúa mắc một chứng bệnh
điên khùng: ghét đàn ông tới mức bày cách hãm hại những chàng hoàng tử
bất hạnh đam mê sắc đẹp của nàng dám cả gan đến ngỏ lời cầu hôn. Bà nhũ
mẫu tự đề ra nhiệm vụ: qua các chuyện kể của mình, chứng minh người
trần mắt thịt cũng như các vị thần linh có phép màu biến hoá, không thiếu
những mối tình chung thủy; không thiếu những chàng trai bất chấp thăng
trầm một lòng thủy chung với người tình: "trong đời chỉ nên yêu một lần,
song đã yêu thì yêu đến trọn đời". Bà phải kể sao cho chuyện sau hấp dẫn
hơn chuyện trước, để nàng công chúa cưng không chán, tiếp tục nghe kỳ
đến lúc khỏi bệnh và chịu đi tìm người làm chồng mới thôi.
Các truyện kể trong hai bộ truyện do đó độc lập với nhau, mỗi truyện là
một thể hoàn chỉnh song đều có quan hệ chằng chịt, thậm chí có chung một
nhân vật chính, được gắn kết lại theo cách móc xích, móc nào cũng có thể
coi là móc chính. Hoặc theo lối ngăn kéo: chuyện trước chứa chuyện sau,
chuyện sau đựng chuyện sau nữa, cứ thế kéo đài tưởng như vô hồi kỳ trận,
cho đến sau một nghìn lẻ một đêm (hoặc một nghìn lẻ một ngày) mới thắt
nút lại và kết thúc. Kết thúc chuyện nào cũng có hậu: ở bộ truyện trên, sau
nghìn lẻ một đêm, người kể chuyện sinh hạ cho nhà vua ba hoàng tứ xinh
như mộng, không những được tha tội chết mà còn được phong làm hoàng
hậu. ở bộ truyện dưới, sau nghìn lẻ một ngày, nàng công chúa điên khùng
rời hoàng cung bôn ba đi tìm chàng trai làm mình say đắm- một hoàng tử,
đương nhiên- để rồi khi hoàng tứ lên nối ngôi cha, sẽ trở thành hoàng hậu.
Hai bộ truyện còn giống nhau ở sự thành công vang dội. Thành công của bộ
Nghìn lẻ một đêm, theo các nhà nghiên cứu, chưa từng có ở pháp hoặc bất
kỳ một nước nào trước đó. Trong vòng bảy mươi tám năm, từ khi tập I đến
với bạn đọc (năm 1704) cho đến năm 1782, nó được tái bản 70 lần. Từ
tiếng Pháp, bộ truyện A Rập được dịch sang hầu hết các ngôn ngữ chính ở
châu âu, đi vòng quanh thế giới, và được dịch trở lại tiếng A Rập. Nó gợi
đề tài và cảm hứng cho người đời sau sáng tạo nên nhiều không kể xiết
những vở kịch nói, ca kịch, nhạc kịch, điện ảnh, hội hoạ... lừng danh trên
https://thuviensach.vn
thế giới.
Đề tựa bản dịch hoàn chỉnh xuất bản bằng tiếng Nga, đại văn hào Maxime
Gorki đánh giá bộ sách là "di sản tuyệt diệu và đồ sộ nhất của sáng tác
truyền khẩu dân gianhlà "một công trình dệt gấp bằng từ ngữ, Phủ lên trái
đất một tấm thảm đẹp lạ lùng" Một điều thú vị nữa, một văn hào khác sáng
tác bằng tiếng Tây Ban Nha là Gabriel Marquez, Giải thưởng Nobel về văn
chương, trong cuốn đầu bộ hồi ký ba tập mới công bố năm nay (2003) cho
biết, cuốn sách tập đọc đầu tiên của cậu bé Gabriel học trường Montessori
ở một làng quê mất hút một nơi nào đấy giữa nước Colombia xa xôi bên kia
bờ Đại Tây Dương chính là truyện... Nghìn lẻ một đêm. Thành công của bộ
Nghìn lẻ một ngày, ít nhất trong hơn một trăm năm đầu, không mấy kém.
Từ tiếng Pháp bộ truyện được dịch ra các tiếng Đức, Anh, Hà Lan, Đan
Mạch, ý, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ và... Ba Tư. Thế kỷ 18, riêng
ở Pháp, Nghìn lẻ một ngày được tái bản mười tám lần, thế kỷ 19 mười lăm
lần... Cũng như Nghìn lẻ một đêm, bộ Nghìn lẻ một ngày được đưa vào giáo
trình văn học bậc trung học phổ thông ở Pháp từ thế kỷ 18, và gợi đề tài,
cảm hứng cho nhiều bậc tài danh sáng tạo những công trình văn học, nghệ
thuật xuất sắc. Chỉ một trường đoạn trong chuyện Hoàng tử Calap và công
chúa nước Trung Hoa đã gợi hứng để các tác gia nước ý sáng tạo nên hai
tác phẩm công diễn: kịch nói Turandotcủa bá tước Gozzi (1720-1806) và
nhạc kịch cùng tên của nhạc sĩ tên tuổi Giacomo Puccini (1858-i924).
Puccini là tác giả tài hoa về nhiều loại hình âm nhạc: giao hưởng, nhạc
thính phòng, nhạc tôn giáo . . . ông là người chuyển thể thành công nhiều
tác phẩm văn học sang nhạc phẩm, trong đó có Ma nonLescaut(1893), La
Bohême(1896), Madame Butterlzy (1904)... Vẫn như Nghìn lẻ một đêm, bộ
Nghìn lẻ một ngày cũng được biên tập để xuất bản cho độc giả trẻ tuổi. Nổi
tiếng nhất ở Pháp là bộ sách của Nhà xuất bản DelagTave, Paris, tuy đã
lược bớt một số truyện vẫn này tới 813 trang và 500 minh họa. Truyện nàng
Repxima đức hạnh, truyện cuối cùng của bộ Nghìn lẻ một ngày, không rõ từ
bao giờ trở thành một câu chuyện dân gian phổ biến nhất tại Thụy Điển.
Bộ Nghìn lẻ một ngày tuy ra đời sau khi bộ Nghìn lẻ một đêm toả sáng chói
lọi, vẫn được nhiều nhà văn và học giả đương thời đánh giá cao. Văn hào
https://thuviensach.vn
và triết gia đi tiên phong Thế kỷ ánh sáng: Voltaire (1694-1778), người mà
người ta đồn có lần cho rằng trong số các tác gia lỗi lạc cùng thời với ông
như Jean Jacques Rousseau, Diderot, Montesquieu, Bernadin ~ dễ Sang
Pierre... chỉ mỗi một Lesage có thể sánh ngang văn tài của mình, đã đánh
giá cao bộ Nghìn lẻ một ngày. Voltaire viết trong bộ Thời đại vua Louis XIV
của ông như sau: lui Người ta đọc được của F. Pétis de la Croix Chuyện
Thành Cát Tư Hãn và Chuyện Tamerlan(tức Timour-i Lang) dựa theo các
tác gia cổ người A Rập, cùng nhiều tác phẩm có ích khác; tuy nhiên bản
dịch bộ Nghìn lẻ một ngày của ông là cuốn sách có nhiều người đọc hơn
cả..." Tại một bài khác, Voltaire lại viết: "Nghìn lẻ Một đêm hay Nghìn lẻ
Một ngày đều giống như nhau thôi, đều cùng là Nghìn lẻ Một"- ý nhà văn
muốn nói cả hai tác phẩm cùng hấp dẫn, phong phú tuyệt vời không mấy
khác nhau.
Tu sĩ J. P.Nicéron (1685-1738), một tác gia chuyên về tiểu sứ các nhà văn
Pháp thế kỷ 18 bình: "Các truyện trong Nghìn lẻ một đêm do A. Galland
dịch thường có nhược điểm là không mấy giống thực tế. Các truyện trong
Nghìn lẻ một ngày, do F. P. De la Croix dịch một phần từ tiếng Ba Tư tài
tình hơn nhiều và gần thực tại hơn nhiều, tuy không phải sự thần kỳ không
ngư trị trong nhiều truyện, đúng như sở thích của những người phương
Đông". R. F. Burton (1821-1890) là dịch giả thành công nhất rong số người
dịch bộ Nghìn lẻ một đêm của A. GallanD ra tiếng Anh, khẳng định: Nghìn
lẻ một ngày trên thực tế là một sáng tác. Trong phần lớn trường hợp, nhiều
truyện kể trong bộ ấy là những sáng tác tài tình bắt nguồn từ chỗ vay mượn
(các truyện dân gian) rồi diễn tả lại một cách rất tự do".
https://thuviensach.vn
François Pétis De La Croix
Nghìn lẻ một ngày
Dịch giả: Phan Quang
Lời giới thiệu (B)
MỘT VỤ ÁN VĂN CHƯƠNG
Hai bộ truyện sinh đôi ấy, đúng như lời mở đầu câu chuyện nổi tiếng An Ba
ba và bốn mươi tên cướp viết, "những tưởng số phận hai người rồi cũng sẽ
giống nhau, ai ngờ sự tình xui nên khác". Sau gần hai thế kỷ lừng lẫy
không mấy kém người anh, bộ Nghìn lẻ một ngày bị thất sủng trước bạn
đọc. Phải chờ cả trăm năm, đến cuối thế kỷ 20, công bằng mới tái lập,
Nghìn lẻ một ngày mới có dịp tái xuất giang hồ.
Trong Lời giới thiệu do chính F.P. De La Croix viết năm 1710 và in ở đầu
tập I, ông khẳng định bộ sách của mình được dịch từ tác phẩm của tu sĩ
Mocies mà ông có dịp giao du năm 1675 khi đang làm việc ở thành phố
Ispahan (Ba Tư). Tác phẩm ấy được tu sĩ Mocles dịch từ một bản tiếng Thổ
Nhĩ Kỳ, nhan đề Al-farage badal-shidda,có nghĩa Niềm vui sau nỗi buồn,
mà "Thư viện Hoàng gia của ta (Pháp) cũng có lưu trữ một bản". Tại Lời
thưa trước I in đầu tập II và Lời thưa trước II, De La Croix hai lần khẳng
định điều ấy Vấn đề đặt ra đối với người đời sau là có tu sĩ Mocles- tác gia
thật hay không (mặc dù tên ông ấy đã được đưa vào bộ Từ điển thư mục thế
giới, cổ đại và hiện đại của Michaud /1811-1828), và có thật nguyên bản
Niềm vui sau nỗi buồn lưu trữ ở Thư viện Hoàng gia (Paris) hay không.
Ngay từ cuối thế kỷ 18, đã có ý kiến nghi ngờ lời giới thiệu của De La
Croix. Trong một chuyến sang Pháp, nhà Đông phương học người áo là J.
de Hammer (1774-1856) thân hành đến Thư viện hoàng gia đào bới. ông
tuyệt nhiên không nhìn thấy nguyên bản Niềm vui sau nỗi buồn của tu sĩ
Mocles. ông đi tới kết luận Lời nói đầu của De La Croix cũng là một
"truyện kể". Theo chân ông, nhà Đông phương học người Pháp A.
Loiseleur Deslongchamps (1805-1840) cũng cho đấy một khuyên ngụ
ngôn. Người ta còn nhấn mạnh, trong các cuốn sách ghi chép về những
chuyến đi của ông sang các nước Trung á, tuy De La Croix có thuật lại khá
https://thuviensach.vn
chi tiết việc gặp tu sĩ Mocles tại thành phố Ispahan năm 1675, và sau đấy
giữa hai người có mối quan hệ thầy trò, song tuyệt nhiên trong nhật ký ông
không đả động đến bộ sách Hezaryec (Nghìn lẻ một ngày) mà ông nói
"được tu sĩ cho phép sao giờ một bảng". Rõ ràng người làm nên bộ truyện
Nghìn lẻ một ngày không phải tu sĩ Ba Tư Mocles mà chính là nhà Đông
phương học người Pháp F. P. De Lacroix.
Câu chuyện trở thành một vụ án văn chương. F.P. De La Croix bị các nhà
nghiên cứu văn học cổ đại phê phán nặng nề về sự không trung thực. Lý
do? Chắc hẳn, như lời nhà nghiên cứu J.A.S. Collin dễ Plancy nói trong lời
nói đầu bộ Nghìn lẻ một ngày tái bản năm 1826 , "De La Croix sợ nếu nói
thật mình là tác giả, có thể ảnh hưởng đến thành công của các truyện kể
trước bạn đọc, vì người Pháp xưa nay vẫn chuộng các bản dịch từ tiếng
nước ngoài hơn các kiệt tác của nước mình".
Tuy nhiên, ngay thời bấy giờ, đã có không ít người lên tiếng bênh vực De
La Croix, khẳng định giá trị độc đáo của bộ Nghìn lẻ một ngày. Nhà văn La
Harpe, trong cuốn Giáo trình văn học cổ đại và hiện đại (xin lưu ý: Giáo
trình) đánh giá đúng mực: Các truyện kể Ba Tư trong Nghìn lẻ một ngày có
cơ sở vững chãi hơn các truyện trong Nghìn lẻ một đêm. Chủ đề chính là
thuyết phục một nàng công chúa từ chỗ nặng định kiến về đàn ông, đi đến
tin rằng trong giới mày râu chàng thiếu gì người yêu chung thủy (...) Chúng
ta cùng biết ơn Antoine Galland và Pétis De La Croix- biết ơn thật sự hai
ông đã có công giới thiệu với chúng ta các truyện kể A Rập và truyện kể Ba
Tư. Antoine Galland viết văn cẩu thả, Pétis De La Croix viết chuẩn mực
hơn, văn cả hai ông đều rất tự nhiên". Nhà nghiên cứu Collin dễ Plancy còn
dứt khoát hơn: "Dù thế nào, nếu lòng biết ơn của chúng ta đối với Pétis De
La Croix với tư cách nhà dịch thuật có kém đi (sau khi phát hiện đấy không
phải là một bộ truyện dịch), thì chúng ta càng biết ơn ông nhiều hơn với tư
cách nhà sáng tác. Quang vinh của ông vì vậy chúng giảm chút nào".
Ngày nay, sau bao công trình nghiên cứu, nhà Đông phương học Phí Sebag
đã có đủ cơ sở để khẳng định: phần lớn các truyện kể trong bộ Nghìn lẻ một
ngày dựa vào bản cuốn sách viết tay bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ nhan đề AlFarage bao al-shidda có nghĩa Niềm vui sau nỗi buồn.. Đây là một tập gồm
https://thuviensach.vn
bốn mươi truyện kể, dịch từ tiếng Ba Tư sang. Những bản viết tay ấy, vào
cuối thế kỷ XVII có ở Thư viện Hoàng gia Pháp, và De La Croix có thể tìm
đọc bộ sách ở đấy.
Ngày nay, sau tròn ba thế kỷ, có lẽ đến lúc có thể quả quyết như Phút
Sebag: "Bộ sách Nghìn lẻ một ngày là một công trình hoàn hảo nhất của
nghệ thuật kể chuyện theo phong cách thế kỷ 18... Độc giả nào chưa đọc bộ
sách ấy, chưa thể nói mình đã thông hiểu mọi tuyệt tác của nền văn học
nước nhà". Gần đây, trên nguyệt san Thế giới ngoại giao số ra tháng 102003 vừa qua, nhà phê bình văn học Pierre Lepape viết: “phải chăng thời
điểm của Nghìn lẻ một ngày cuối cùng đã trở lại? Có phải cuối cùng người
ta thôi không coi F.P. De La Croix như một người làm đồ giả về tác phẩm
hư cấu nữa, mà đánh giá ông thật sự là một nhà bác học dành thời giờ sáng
tác trong những giờ thư giãn? Bộ sách ấy xứng đáng giành lại chỗ nó đã có
đúng như vào thời cuối triều đại vua Louis XIV, sát cánh bên bộ Nghìn lẻ
một đêm của A. Galland. ông này so với De La Croix có thể là nhà phiên
dịch trung thành hơn, song lại là nhà văn không được trau chuốt bằng".
Về dung lượng, bộ Nghìn lẻ một ngày dài chỉ bằng một nửa người anh sinh
đôi của nó: Nghìn lẻ một đêm. Có phải nguồn truyện cổ Ba Tư và Thổ Nhĩ
Kỳ không phong phú bằng nguồn truyện cổ A Rập? Hay nhà Đông phương
học của chúng ta cạn tư liệu? Các nhà nghiên cứu về F.P. De Lacroix vừa
phát hiện thêm một chi tiết thú vị. Tại Lời thưa trước I, tác giả cho biết
"mặc dù bận trăm công nghìn việc khác, người dịch vẫn tiếp tục công việc
của mình vào những giờ phút rỗi rãi, và hy vọng sẽ cung cấp cho người đọc
mỗi tháng một tập Nghìn lẻ một ngàyHoá ra, ngoài hiệu ứng của thành công
vang dội của bộ Nghìn lẻ một đêm, còn có một động lực cá nhân khác nữa
thôi thúc Delacroix cố dành những giờ phút rỗi rãi để làm bộ sách, là nhằm
mua vui cho một "người đọc" hào hoa: nàng Marie- Adélaide de Savoie(*),
quận chúa xứ Bourgogne. Vẫn nhà nghiên cứu Phút Sebag cung cấp cho
chúng ta tư liệu mới. ông viết trong phần Cuộc đời và tác phẩm của F.P.De
La Croix: 1710-1712. Xuất bán bộ Nghìn lẻ một ngày, truyện kể Ba Tư do
F.P. De La Croix dịch ra tiếng Pháp, Paris 1710- 1712, năm tập. Căn cứ và
một tư liệu chúng tôi vừa phát hiện, hoá ra De la Croix biên soạn bộ sách
https://thuviensach.vn
ấy vào những giờ rỗi rãi của ông, nhằm giải trí cho Marie-adélaide dễ
Savoie, quận chúa xứ Bourgogne, và chính "sự qua đời của nàng quận chúa
ấy"- mất vì bệnh ngày 12 tháng 2năm 1712 ớ tuổi hai mươi sáu,-đã khiến
tác giả ngưng một công trình đáng ra còn có thể tôi xa hơn nữa" (Theo tư
liệu lưu trừ tại Thư viện L Arsenal, Paris(**), hồ sơ 5495, tập 75). "4-121713. F.P. De La Croix, bị kiệt lực sớm vì làm việc quá sức, mất tại Paris và
được an táng trong khuôn viên nhà thờ Sang Sulpitre. Báo La Gazette
dễPari8đưa tin về sự qua đời của nhà Đông phương học như sau: Ngài
Frallcois PétisDe La Croix, thư ký- phiêndịch của nhàqua và giáo sư ngôn
ngữ và văn chương A Bập tại Đại học hoàng gia, một người có năng lực
phi thường và rất đáng tin cậy về các ngônngữ: A Rập, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Tư
và Arlnelli, vừa qua đời ngày 4-12, thọ sáu mươi tuổi.
"Ông để lại trong tình trạng bản viết tay một số lượng rất đáng ngạc nhiên
nhiều tác phẩm dịch từ tiếng A Rập, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Tư và Armêni, nhiều
từ điển song ngữ và sách bình chú về nhiều chủ đề khác nhau, con trai ông,
Alexandre Louis Marie và linh mục Goujat, trong hai công trình tiến hành
độc lập, đã thống kê và bổ sung đầy đủ."
__________________
[(*) MarieAdélaidedễSavoie sinh ngày 5-12-1685, kết hôn cùng quận công
de Bourgogne, sống tại triều đình vua Louis XIV, và là một người được ông
vua này sủng ái . Theo những người đương thời, đấy là một phụ nữ xinh
đẹp, thông ninh, trò chuyện hấp dẫn, tính ham vui. thích chungdiện, khiêu
vũ, tiệc tùng, săn bắn và đánh bạc. Có thể với địa vị, uy lực và sắc đẹp của
thình, nàng quận chúa này- giữa lúc cả kinh thành Paris đang say sưa với
Nghìn lẻ một đêm- là người ngỏ ý khích lệ nếu không phải là đặt hàng" cho
De La Croix viết bộ Nghìn lẻ một ngày.
Chú thích:
(**) Một thư viện rất lớn ở Pháp thành lập từ thế kỷ XV/ toạ lạc tại Quận
4 Paris. về tầm quan trọng chỉ chỉ kém có Thư viện Quốc gia.
https://thuviensach.vn
François Pétis De La Croix
Nghìn lẻ một ngày
Dịch giả: Phan Quang
Lời giới thiệu (C)
NHÀ ĐÔNG PHƯƠNG HỌC LỖI LẠC
François Pétis De La Croix là người cùng thời với Antoine Galland, kém
ông này bảy tuổi nhưng lại ra đi trước hai năm, người ta bảo do kiệt sức vì
làm việc quá nhiều. Khi ông mất, Antoine Galland ghi vào Nhật ký của
mình: “sáng nay (ngày 9-12-1713), đọc báo La Gazette, tôi mới hay tin ông
François Pétis De La Croix, thư ký- phiên dịch của Nhà Vua về ba thứ tiếng
phương Đông: A Rập, Ba Tư và Thổ Nhĩ Kỳ, giáo sư Đại học Hoàng gia
môn ngôn ngữ A Rập, đồng nghiệp của tôi, đã qua đời ngày 4 tháng này,
thọ sáu mươi tuổi. Cho đến nay, chưa có một người châu âu nào nắm vững
cả ba ngôn ngữ ấy hoàn hảo như ông, không chỉ trong việc dịch xuôi hay
nói chuyện mà cả trong sáng tác. Ngoài ba thứ tiếng ấy, gần đây do nhu cầu
của Triều đình có một số văn bản tiếng Armêni cần dịch (ra tiếng Pháp),
ông còn học và thông thạo thêm tiếng Armêni. ông để lại nhiều tác phẩm
dịch từ tiếng A Rập và tiếng Ba Tư, đặc biệt cuốn Cuộc đời Tamerlan,
nguyên tác tiếng Ba Tư của Sherfeddin, mà ông vừa chỉnh lý lại để De La
Croix là một trong những người châu âu đi tiên phong trong môn Đông
phương học. ông sinh năm 1653, con trai một viên chức làm thư ký và
phiên dịch cho nhà vua về các ngôn ngừ Thổ Nhĩ Kỳ và A Rập. Ngay từ
nhỏ, cậu Francois đã được quan tâm đào tạo nhằm nối nghiệp cha sau này.
Cậu không chỉ học các ngôn ngữ phương Đông, mà còn tỏ ra xuất sắc các
môn toán, thiên văn, địa lý, hội họa và âm nhạc. Chưa đến mười bảy tuổi,
ông đã được Colbert hồi bấy giờ là thủ tướng của vua Louis XIV (còn được
người đương thời tôn vinh là ông vua toả sáng như Mặt trời) gửi sang
Trung Đông để bồ túc về ngôn ngữ, văn học, nghiên cứu phong tục tập
quán cũng như các môn khoa học, nghệ thuật và tôn giáo các dân tộc
phương Đông.
Trong suốt mười năm, từ 1670 đến 1680, chàng thanh niên chu du qua các
https://thuviensach.vn
nước Xyri, Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, lưu trú một thời gian dài tại các thành phố
Alep, Ispahan và Constantinop (nay là Istanbun) để học thêm ngôn ngữ văn
học cũng như khẩu ngữ của người A Rập, người Ba Tư và người Thổ Nhĩ
Kỳ. Thời gian lưu học ở Alep, mặc dù chưa đến hai mươi tuổi ông đã viết
trực tiếp bằng tiếng A Rập một cuốn sách về tiểu sử vua Louis XIV và
chiến dịch đánh Hà Lan do nhà vua ấy tiến hành. Khi nước Pháp lần đầu
thiết lập quan hệ ngoại giao với đế quốc ôtôman và cử đại sứ đặc mệnh
toàn quyền đến Thổ Nhĩ Kỳ, De La Croix làm trợ lý cho hai đại sứ liên
tiếp.
Đọc các nhật ký và ghi chép ông để lại, người ta thấy ông đã đặt chân đến
nhiều thành phố và vùng nông thôn sau này sẽ được nhà văn miêu tả khá
chân thực sinh hoạt của người dân trong bộ Nghìn lẻ một ngày. Có thể kể:
Alep, Batđa, Điabêkia, Mu xen (hoặc Mu xun), Ispahan, Constantinop,
Smiêc, Livuanơ, rồi thời gian sau Maroc, Algiê, Cai ro... Là người ham mê
sưu tầm sách cổ Đông phương, ông mang về làm giàu cho Thư viện Hoàng
gia Pháp rất nhiều bản sách in và sách chép tay bằng tiếng A Rập, Ba Tư
hoặc Thổ Nhĩ Kỳ.
Sau đây là một đoạn nhật ký của chàng trai hiếu học về cuộc gặp gỡ tu sĩ
Mocles ở Ispahan- Mocles là người gần bốn mươi năm sau được ông giới
thiệu với độc giả Pháp là tác giả bộ Nghìn lẻ một ngày bằng tiếng Ba Tư:
"Thời gian này tôi còn phải học thêm một cuốn sách rất khó về thần học
nhan đề là Mesnevigồm ít nhất chín vạn câu văn vần. Tôi muốn tìm một
người thuộc lòng bộ sách ấy để học, nhưng vì thiếu tiền không thể tìm ra,
đành phải xin gặp vị Tu sĩ Bề trên dòng tu Mewlevis. Nhờ một người bạn
giới thiệu, tôi được gặp vị tu sĩ ấy. Tôi vừa ngỏ lời chúc tụng xong, ông đã
đồng ý cho phép tôi trong khoảng thời gian . năm, sáu tháng tới, được
nhiều lần gặp ông để ông dạy bảo cho. Tôi học thành công cuốn sách ấy. Vị
tu sĩ ấy đâu phải là người sẽ đồng ý nhận tiền công, tôi tặng ông ba cái âu
sứ lớn, và được ông vui lòng nhận cho. Tên ông là tu sĩ Mocles. Thời gian
này ông đang cùng mười hai môn đệ chuẩn bị sáng lập một giáo phái
mới..."
Cuối năm 1680, trớ về Paris, De La Croix được cứ vào chức vụ làm thư ký
https://thuviensach.vn
phiên dịch cho nhà vua về các ngôn ngữ Trung Đông, mà thân sinh ông vẫn
giữ từ trước. Năm 1692, được phong làm giáo sư thực thụ dạy ngôn ngữ và
văn học A Rập ở Đại học Hoàng gia, đồng thời vẫn tiếp tục làm thư kýphiên dịch cho Triều đình. ông tập trung công sức vào việc trước tác và
phiên dịch sách tiếng A Rập, Ba Tử, Thổ Nhĩ Kỳ và Armêni. ông để lại một
thư mục dày dặn về các công trình của mình.
Việc đầu tiên của F.P. De La Croix về trước tác là chỉnh lý và cho xuất bản
cuốn Lịch sử Thành Cát Tu Hãn mà người cha khi qua đời chưa kịp hoàn
thành. Sau đấy, xuất bản cuốn Truyện bà hoàng Ba Tư và các vị tể tướng,
gồm bốn mươi truyện kể gốc Thổ Nhĩ Kỳ (1707) và bộ Nghìn lẻ một ngày
(1710-1712). Sau khi ông qua đời, con trai ông cho xuất bản cuốn Chuyện
Timua-Bec (còn gọi là Tamerlan) do ông biên soạn. Thật ra, số lượng những
tác phẩm đã được in của De La Croix chẳng nghĩa lý so với toàn bộ các
công trình hết sức đồ sộ gồm trước tác, biên dịch, ghi chép, nhật ký... rất
cần thiết cho những ai thời ấy muốn đi sâu nghiên cứu phương Đông. Cuối
bộ sách Thế kỷ của Louis XIV, phụ lục về Danh mục các nhà văn Pháp dưới
triều đại của ông vua ấy, nhà văn và triết gia Voltaire dành cho De La Croix
những dòng sau: "ông là một trong những người được vị thủ tướng vĩ đại
Colbert khuyến khích và thưởng công xứng đáng. Vua Louis XIV đã cử
ông sang Thổ Nhĩ Kỳ và Ba Tư từ năm mười sáu tuổi để học các ngôn ngừ
phương Đông. Có mấy ai ngờ ông đã biên soạn một cuốn sách bằng tiếng A
Rập được đánh giá rất cao ở phương Đông về cuộc đời vua Louis XIV~
ông còn viết cuốn Lịch sử Thành Cát Tư Hãnvà Lịch sứ Tamerlan, dựa trên
các tác gia A Rập thời cổ, và nhiều cuốn sách có ích khác. Nhưng bản dịch
Nghìn lẻ một ngày là cuốn sách có nhiều người đọc hơn cả. Chẳng là: Con
người là băng giá trước sự thậnNllưng lại là lửa hồng trước những điều
tưởng tượng ra (La Fontaine, IX, 6)" Sau nhiều chục năm nghiên cứu, nhà
Đông phương học Paul Sebag không ngần ngại gọi tác giả Nghìn lẻ một
ngày là một nhà bác học.
ĐẠO HỒI, A RẬP, BA TƯ, THỔ NHĨ KỲ...
Người đọc Nghìn lẻ một ngày cũng như Nghìn lẻ mộtđêm thường gặp
https://thuviensach.vn
những khái niệm lịch sử, địa lý, tôn giáo...Trên thực tế, đất nước của các vị
hoàng đế Ba Tư trong truyện không phải nước Ba Tư như chúng ta thường
hiếu, càng không đồng nhất với Cộng hoà Hồi giáo Iran ngày nay. Cũng
như vậy, nước Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại chỉ là một phần nhỏ còn lại của đế quốc
ôtôman do các sultan(Sultan: Danhhiệu của hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ (PQ))
ngày xưa trị vì. Và giữa đế quốc Ba Tư huyền thoại và đế quốc ôtôman
Thổ Nhĩ Kỳ có khoảng cách chừng. . . hai ngàn năm lịch sử.
Ba Tư là một trong những dân tộc và quốc gia cổ nhất hành tinh. Nước Ba
Tư thời thượng cổ có một nền văn minh tồn tại gần hai nghìn năm, từ
khoảng năm 2500 đến năm 640 trước kỷ nguyên công giáo (quen gọi là
công nguyên- C.N.). Đấy là nền văn minh êlamit, di sản văn hoá lâu đời
nhất của người Ba Tư, dù trên thực tế những người tạo dựng nên nền văn
minh ấy không phải tổ tiên đích thực của người Iran hiện nay. Từ thế kỷ thứ
VII đến thế kỷ thứ IV trước C.N. là đế quốc Ba Tư của người Mêdet và
người Acsênêit. Dưới triều các hoàng đế Xuân và Đariut, đế quốc Ba Tư
trải rộng khắp vùng Trung Cận Đông. Phía Nam, từ phần đất dọc bờ nam
Địa trung hải, qua toàn bộ lưu vực sông Nin, phần bắc lục địa A Rập, đến
vùng Lưỡng Hà, rồi đi dọc theo vịnh Ba Tư đến tận toàn bộ lưu vực sông
Inđut của ân Độ. Phía Bắc từ Maxêđoan thuộc châu âu, theo bờ nam Hắc
Hải tới bờ nam biển Caspi, vươn sang vùng nam biển A ran và đi quá kinh
đô Xamacan (nay thuộc Uzbêkistan) rất xa về phía đông.
Với cuộc chinh phục của vua Alêchxan Đại đế, đế quốc Ba Tư bước vào
thời kỳ Hi Lạp hoá, chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền văn minh cổ đại Hy
Lạp. Dĩ nhiên nền văn minh Hy Lạp gặp sức đối kháng mãnh liệt của người
Ba Tư mong muốn trở lại thời hoàng kim của mình thời trước. Đế quốc Ba
Tư sau cùng là triều đại các hoàng đế thuộc dòng Xaxanit (từ thế kỷ III đến
thế kỷ Vi sau C.N.).
Nhà sử học Philippe Gignoux viết về thời kỳ này như sau: "Dưới triều đại
của đại đế Xosro Anusiavan (531-579) và cháu ông, đại đế Xosro Paviz
t591-628), sự huy hoàng tráng lệ của các triều đình Ba Tư đạt tới đỉnh cao
và lưu vào huyền thoại cho đến ngày nay. Hoàng đế Anusiavan là một điển
hình nhà vua công minh, hào hiệp theo truyền thống A Rập. ông duy trì
https://thuviensach.vn
được hòa bình, tiến hành nhiều cuộc cải cách, xây dựng nhiều thành phố.
Riêng vùng Xtêsiphon đã là một tổng thể gồm bảy thành phố liên hoàn.
Đây là một thời kỳ rực rỡ của văn học và triết học. Giới tăng lữ nắm trong
tay toàn bộ nền giáo dục. ảnh hưởng của Hy Lạp về y học, của ấn Độ về
văn học rất đậm nét"[( Bách khoa toàn thư Universalis, 1996, tập XV/I,
trang 896.)]
Với sự ra đời của đạo Hồi do Mahomêt sáng lập và thế kỷ thứ VII, đặc biệt
sau các cuộc chinh phục của các Calip (hoàng đế và thống lĩnh tín đồ Hồi
giáo) kế vị Mahômêt, đế quốc Ba Tư bước vào thời kỳ Hồi giáo hóa. Kinh
đô được chuyển sang Batđa nay là thủ đô trắc. Xuất hiện một nền văn minh
mới, hệ quả giao thoa giữa hai nền văn minh lớn: Ba Tư và A Rập (còn có
tên Văn minh A Rập- Ba Tư). Chói lọi nhất (và cũng nhiều rối rắm nhất)
thời kỳ này là vương triều của hoàng đế Harun-an-Rasit (766-809), một
nhân vật lịch sử xuất hiện thường xuyên trong hai bộ Nghìn lẻ một đêm và
Nghìn lẻ một ngày. Dưới triều đại của ông, kinh thành Batđa được coi như
một trung tâm chính trị văn hoá huy hoàng tráng lệ nhất thời bấy giờ.
Đế chế Calip suy đồi và tan rã trước cuộc xâm lược và đô hộ của người Thổ
Nhĩ Kỳ. Tuy nhiên, thế kỷ XI-XII vẫn còn là một thời đại hoàng kim của
nước Ba Tư Hồi giáo về chính trị, văn học, triết học, nghệ thuật, kiến trúc...
Các cuộc xâm lăng liên tiếp của người Mông Cổ (Thành Cát Tư Hãn),
người Ti mua (Tamerlan), người Tuôcmen... là những biến động cự kỳ lớn,
vừa làm xáo trộn vừa làm phong phú thêm nền văn hóa Ba Tư Hồi giáo vốn
đã rất đặc sắc. Đế quốc ôtôman của người Thổ Nhĩ Kỳ manh nha từ thế kỷ
XII, hình thành vào thế kỷ XV và đạt tới cực thịnh và thế kỷ XV-XVI cũng
hết sức rộng lớn. Biên giới phía nam của nó trải dài suốt cả vùng Bắc Phi
sang tận vịnh Ba Tư.
Phía bắc, tất cả vùng Lường Hà sang một phần các nước Đông âu. Qua
nhiều bước thăng trầm và đổi thay địa giới, đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ tồn tại mãi
đến năm 1923 mới chấm d...
 





